Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

 Chuyển đổi bứt phá và sức mạnh chuỗi liên kết


Khi người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và hệ thống phân phối cùng tham gia một chuỗi liên kết thống nhất, lợi thế về vùng nguyên liệu chuyển đổi bứt phá dựa trên điều kiện đất đai, nguồn nước, khí hậu, hạ tầng, trình độ sản xuất và khả năng kết nối thị trường tiếp tục được khai thác, chuyển hóa thành giá trị gia tăng bền vững trên từng nhóm cây trồng.

Tạo nguồn nguyên liệu giá trị cao

Ước tính đến cuối năm 2026, toàn tỉnh chuyển đổi gần 8.420 ha diện tích đất thu nhập thấp để trồng mới các loại cây trồng đạt hiệu quả kinh tế vượt trội. Qua đó các loại cây chủ lực tiếp tục tăng cả 2 tiêu chí về diện tích gieo trồng và sản lượng so với cùng kỳ. Cụ thể cây rau (96.600ha, hơn 3 triệu tấn); hoa (12.610 ha, gần 5,2 tỷ cành); sầu riêng (45.550ha, gần 307.290 tấn); thanh long (25.820 ha, 577.570 tấn); cà phê (328.732 ha, gần 1.706.360 tấn); tiêu (gần 37.720ha, hơn 95.510 tấn), tăng tỷ lệ diện tích từ 0,7% đến 5,9% và sản lượng từ 1,3% đến 6,3% .


Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Trần Quang Duy đánh giá: “Toàn tỉnh tiếp tục cơ cấu lại ngành trồng trọt theo hướng lựa chọn mức độ ứng dụng công nghệ phù hợp đối với từng vùng sản xuất, từng đối tượng cây trồng, tăng tỷ trọng các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, tạo nguồn nguyên liệu phong phú, giá trị cao cho thị trường trong nước và xuất khẩu…” Đến nay tổng diện tích sản xuất đạt tiêu chí nông nghiệp công nghệ cao đạt 119.000 ha, chiếm 14,7% diện tích canh tác toàn tỉnh. Trong đó gồm 1.400 ha diện tích nông nghiệp thông minh,  16 vùng trồng trọt và 7 doanh nghiệp được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao.

Đáng kể toàn tỉnh có gần 510 cơ sở sơ chế, đóng gói, chế biến nông sản đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc của các thị trường nhập khẩu, sản lượng rau, quả chế biến ước đạt 20.722 tấn, tăng 11,6% so cùng kỳ. Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng đã kết nối tiêu thụ các sản phẩm chủ lực và sản phẩm OCOP của tỉnh như: sầu riêng, thanh long, chanh dây, bơ sáp, hồ tiêu vào hệ thống phân phối, chuỗi bán lẻ trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốc, Nga và các thị trường tiềm năng khác. Trong đó kim ngạch xuất khẩu hơn nửa năm 2026 khá khả quan nhu: cà phê nhân (hơn 416,2 triệu USD); rau, củ, trái (hơn 61,8 triệu USD); tiêu (95,4 triệu USD); điều (74 triệu USD); hoa ( hơn 54,4 triệu USD); chè (gần 7,5 triệu  USD)…Kết quả toàn tỉnh đã và đang nâng cao hiệu quả hoạt động 28 chuỗi liên kết với 47.590 hộ thành viên, tổng diện tích trồng trọt 85.000 ha, tổng sản lượng mỗi năm 920.000 tấn.

Liên kết phải bắt đầu từ thị trường

Thực tiễn cho thấy, một chuỗi liên kết hiệu quả không đơn thuần là doanh nghiệp ký hợp đồng thu mua với nông dân. Đó phải là sự kết nối từ khâu giống, vật tư đầu vào, quy trình canh tác, giám sát chất lượng, thu hoạch, sơ chế, đóng gói đến vận chuyển, phân phối và tiêu thụ. Mỗi mắt xích đều có vai trò riêng nhưng cùng hướng đến một mục tiêu chung tạo ra sản phẩm đồng nhất, có truy xuất nguồn gốc và bắt đầu đúng yêu cầu của thị trường. Minh chứng chuỗi liên kết Huỳnh Thị Thơm xã Đức Trọng ngay từ lúc “xuất phát” thay vì sản xuất theo tín hiệu thị trường một cách bị động, đã liên kết thành viên sản xuất theo đơn đặt hàng, tiêu chuẩn và nhu cầu tiêu dùng của thị trường xuất khẩu. Tính riêng 8 tháng đầu năm 2026, mỗi tháng chuỗi liên kết Huỳnh Thị Thơm xuất khẩu sang thị trường Đài Loan, Hàn Quốc từ 2.000- 3.000 tấn rau sản xuất, thu hoạch đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm trên các vùng nguyên liệu xã Đức Trọng, xã Đơn Dương và các xã lân cận.


Chủ trì chuỗi liên kết Huỳnh Thị Thơm kể lại, bắt đầu kết nối với các doanh nghiệp Đài Loan từ 10 năm trước, chuỗi liên kết hoạt động khu vực miền Tây Nam tổ chức sản xuất theo kế hoạch phân bổ đến từng thành viên từ nguồn giống đến quy trình kỹ thuật canh tác và thu hoạch đảm bảo chất lượng theo hợp đồng. Đến những năm gần đây, các doanh nghiệp Đài Loan đã thông tin giao thương mở rộng đối tác của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc với các dòng sản phẩm rau, củ, quả ôn đới của tỉnh, chuỗi liên kết từng bước phát triển đến nay hơn 50 thành viên, tổng diện tích ổn định trên dưới 100 ha. “Sau khi ký hợp đồng tiêu thụ với đối tác xuất khẩu, chuỗi liên kết ứng trước nguồn vốn đầu tư, cung cấp giống, kỹ thuật chăm sóc theo lịch thời vụ, quản lý dịch bệnh, tổ chức thu hoạch theo yêu cầu của đơn hàng, thỏa thuận giá bao tiêu sản phẩm ổn định trong 6 tháng mùa mưa và 6 tháng mùa nắng, nên nông hộ thành viên biết trước mức lợi nhuân để quyết định đầu tư tối ưu hóa giá trị thu nhập qua từng lứa ra… ”, chủ chuỗi Huỳnh Thị Thơm cho hay.

Bên cạnh tiêu thụ bán sản phẩm tươi dưới dạng nguyên liệu theo hợp đồng xuất khẩu từng thời điểm, chuỗi liên kết Huỳnh Thị Thơm xây dựng nhà xưởng đến 8.500m2 trang bị dây chuyền, máy móc hiện đại sơ chế, đóng gói theo quy cách hoặc chế biến thành những sản phẩm có thời gian bảo quản dài hơn, qua đó điều tiết nguồn hàng, hạn chế áp lực tiêu thụ nguyên liệu trong thời điểm thu hoạch rộ. Hiện hàng tháng chuỗi chế biến xuất khẩu 50 tấn chanh dây, 30 tấn bơ đông lạnh sản xuất từ vùng nguyên liệu Lâm Đồng.


Sức mạnh của chuỗi liên kết của chuỗi liên kết Huỳnh Thị Thơm cho thấy mở rộng từ hình thức hợp tác sản xuất - tiêu thụ sang sản xuất - sơ chế - chế biến - thương mại, từ đó giảm lãng phí và gia tăng giá trị nông sản trong toàn chuỗi. Sức mạnh này cũng đã thể hiện rõ nét ở chuỗi liên kết ngành hàng bơ các loại tại xã Hiệp Thạnh. Ở đây chuỗi đi từ xây dựng 1 ha vườn bơ mẫu đến kết nối thị trường, tập hợp thành viên nhân rộng mô hình đến thu mua toàn bộ sản lượng sơ chế, chế biến, tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Bà Vũ Thị Thu Phương, chủ trì chuỗi cho biết, chuỗi đang ổn định liên kết 15 nông hộ duy trì sản xuất trên 40ha bơ các loại luân phiên thu hoạch quanh năm. Trong đó mùa thu hoạch rộ, chuỗi liên kết thu mua, sơ chế, chế biến và tiêu thụ hơn 100 tấn bơ tươi mỗi ngày.


Như vậy, sức mạnh của chuỗi liên kết giúp thay đổi tư duy sản xuất của người nông dân. Họ không chỉ chú trọng đến năng suất trên một đơn vị diện tích mà đặc biệt quan tâm đến chất lượng, độ an toàn, tính đồng nhất và khả năng đáp ứng đơn hàng, giảm rủi ro khi thị trường biến động. Với doanh nghiệp chủ trì chuỗi liên kết, thực hiện vai trò tổ chức vùng nguyên liệu bài bản, chủ động nguồn cung, giảm chi phí tìm kiếm nguyên liệu và nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng, nâng cao uy tín của thương hiệu nông sản Lâm Đồng. Từ đó biến lợi thế sản xuất thành lợi thế thị trường, gia tăng giá trị sản phẩm và “hội tụ” những hộ sản xuất riêng lẻ thành một hệ sinh thái nông nghiệp có sức cạnh tranh cao…

THÁNG 8.2026