Khi quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) bước vào giai đoạn thực thi, ngành cà phê của tỉnh không chỉ đối diện với những rào cản kỹ thuật mới mà còn đứng trước yêu cầu phải thay đổi toàn diện phương thức sản xuất. Từ tư duy canh tác truyền thống, ngành cà phê đang từng bước chuyển sang mô hình sản xuất sinh thái, phát thải thấp, minh bạch nguồn gốc nhằm giữ vững thị trường xuất khẩu và nâng cao giá trị sản phẩm.
Chuyển đổi mô hình phát thải thấp

Trong thời gian qua, Trung tâm Khuyến nông tỉnh đã phối hợp triển khai nhiều mô hình trình diễn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất cà phê thích ứng biến đổi khí hậu, từng bước đáp ứng các yêu cầu của EUDR.
Theo đó, mô hình canh tác cà phê thông minh tại các vùng sản xuất trọng điểm trong tỉnh, đã tập trung phân tích dinh dưỡng đất để xây dựng công thức sử dụng phân bón chuyên dùng kết hợp phân hữu cơ và chế phẩm vi sinh; áp dụng tưới nước tiết kiệm, cắt tỉa tạo tán, che phủ giữ độ ẩm đất và quản lý dịch hại tổng hợp. Theo tính toán, lợi nhuận của mô hình cà phê trồng thuần hơn 490 triệu đồng/ha, cà phê trồng xen hồ tiêu 414 triệu đồng/ha, trồng xen sầu riêng đạt trên 448 triệu đồng/ha, tăng lần lượt so với vườn cà phê đối chứng gần 17%, 22% và hơn 11%. Qua đó tổ chức sản xuất theo quy trình kỹ thuật thống nhất, quản lý chặt chẽ vật tư đầu vào và ghi chép quá trình canh tác, tạo tiền đề xây dựng vùng nguyên liệu minh bạch, thuận lợi cho truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Với mô hình phát triển vùng nguyên liệu cà phê theo hướng hữu cơ 26 ha, thu hút 26 hộ tham gia tại xã Đức An cho thấy năng suất ổn định gần 3,5 tấn nhân/ha, lợi nhuận tăng 6,7% so với sản xuất đối chứng. Mô hình cũng từng bước hình thành vùng nguyên liệu sản xuất cà phê theo quy trình thống nhất, tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý vùng trồng.
Ngoài ra với 10 mô hình trình diễn hệ thống tưới nước tiết kiệm chăm sóc vườn cà phê xen canh bơ, sầu riêng trong tại các xã Đắk Sắk, Nâm Nung, Krông Nô, Cư Jút, Nam Dong, Thuận An và Đông Gia Nghĩa, đã giảm 50–60% thời gian tưới, tiết kiệm khoảng 10% lượng nước, giảm 10–15% lượng phân bón, năng suất cà phê tăng 22–25%, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên…

Ông Nguyễn Văn Chương, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh đánh giá: “Qua triển khai các mô hình đã góp phần thay đổi nhận thức và tập quán sản xuất cà phê theo hướng bền vững, đồng thời từng bước hình thành các vùng nguyên liệu quản lý theo quy trình thống nhất, tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, thực hiện quản lý vật tư đầu vào, minh bạch thông tin vùng trồng, nhân rộng trên các vùng chuyên canh cà phê sinh thái, phát thải thấp. Đây là nền tảng để nâng cao năng lực tuân thủ các yêu cầu thị trường xuất khẩu, đặc biệt là Quy định EUDR, tăng sức cạnh tranh ngành hàng cà phê của tỉnh…”
Liên kết dữ liệu vùng trồng
Theo kế hoạch hành động thích ứng EUDR, tỉnh xác định ba trục công việc chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng cà phê và chuỗi cung ứng; kết nối với dữ liệu địa chính, dữ liệu tham chiếu về rừng; thiết lập cơ chế quản trị, bảo mật, chia sẻ dữ liệu theo thẩm quyền. Trong đó phân định rõ trách nhiệm cơ quan nhà nước cung cấp, đối chiếu, hướng dẫn, xác nhận thông tin; doanh nghiệp thu thập, quản lý, bảo vệ dữ liệu và giải trình về chuỗi cung ứng, hồ sơ EUDR.

Ông Nguyễn Thiện Chân- Phó Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật khẳng định: “Tỉnh đã có khung chính sách, đầu mối tham mưu và nhiều nguồn dữ liệu nền, hệ thống dữ liệu EUDR đang ở giai đoạn kiểm kê, chuẩn hóa, xác lập cơ chế quản trị và lựa chọn vùng ưu tiên. Giai đoạn cuối năm 2026, tỉnh ưu tiên hoàn thiện dữ liệu đối với các chuỗi cà phê xuất khẩu sang EU, thử nghiệm vận hành đầy đủ hồ sơ EUDR trước khi mở rộng trên địa bàn...” Thực tế, tỉnh đã có nhiều nền tảng phù hợp EUDR như dữ liệu vùng nguyên liệu của doanh nghiệp, dữ liệu mã số vùng trồng, chứng nhận sản xuất bền vững, cơ sở dữ liệu chỉ dẫn địa lý và các mô hình truy xuất nguồn gốc sản phẩm cà phê.
Thống kê toàn tỉnh hiện có khoảng 323.240 ha cà phê, sản lượng ước trên 1 triệu tấn mỗi năm. Quy mô này tạo lợi thế về nguyên liệu và xuất khẩu, đồng thời đặt ra bài toán về số hóa đến từng lô sản xuất, liên kết dữ liệu vùng trồng với giao dịch thu mua và duy trì bằng chứng tuân thủ EUDR trong toàn chuỗi.

Để giải quyết bài toán này, tỉnh hướng đến xây dựng cơ chế dữ liệu dùng chung có kiểm soát, trong đó cơ quan quản lý cung cấp dữ liệu tham chiếu; doanh nghiệp quản lý dữ liệu chuỗi cung ứng; chính quyền cấp xã xác minh thực địa và cập nhật biến động. Đồng thời tỉnh hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá chất lượng dữ liệu, tăng cường tập huấn, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và nông hộ tham gia hệ thống.
TS Đỗ Thị Kiều An - Trường Đại học Tây Nguyên nhận định, việc chuyển đổi mô hình sản xuất cà phê đáp ứng các yêu cầu của EUDR cần đồng bộ các giải pháp về tổ chức sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu, hệ thống dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và liên kết chuỗi giá trị, tạo cơ sở hoạch định chính sách phát triển ngành hàng cà phê xuất khẩu của địa phương trong thời gian tới.
THÁNG 8.2026